Hút mỡ xong có bị béo lại không?
Tế bào mỡ đã hút ra không mọc lại, nhưng bạn vẫn có thể béo lại: phần cân nặng tăng thêm đi vào những vùng chưa từng đụng tới, nên dáng người đổi đi dù không một tế bào mỡ nào quay về chỗ cũ. Tế bào mỡ lấy ra bằng hút mỡ không mọc lại, nên theo đúng nghĩa đen, mỡ không quay về. Nhưng bệnh nhân vẫn tăng cân sau mổ, và phần cân nặng đó phải nằm ở đâu đó. Nó đi vào những vùng chưa từng đụng tới, và đó là lý do một kết quả có thể xấu đi theo thời gian dù không một tế bào mỡ nào đã lấy ra mọc lại.
Gần như mọi buổi tư vấn về chủ đề này đều bắt đầu từ một tiền đề sai. Bệnh nhân muốn nghe rằng ca mổ là vĩnh viễn, và bác sĩ thường nói đúng như vậy, vì xét về kỹ thuật thì điều đó không sai. Cái không ai nói ra mới là điều hữu ích hơn: hút mỡ thay đổi vĩnh viễn nơi cơ thể bạn ưu tiên cất giữ 3 kg tiếp theo. Hiểu được chuyển dịch đó chính là khác biệt giữa một kết quả giữ nguyên suốt một thập kỷ và một kết quả lặng lẽ tan rã trong mười tám tháng.
Hút mỡ xong mỡ có quay lại không?
Không. Tế bào mỡ lấy ra trong ca hút mỡ mất đi vĩnh viễn, vì cơ thể người trưởng thành không tạo lại chúng. Cân nặng tăng lên sau mổ được cất giữ bằng cách phình to những tế bào mỡ còn lại, chứ không phải bằng cách sinh tế bào mới ở vùng đã hút.
Phân biệt này quan trọng vì nó dự đoán được kiểu thay đổi về sau. Nếu tế bào mỡ mới có thể mọc ở bất cứ đâu chúng muốn, một vùng bụng đã hút rồi sẽ có ngày trông như chưa hút. Vì chúng không mọc được, vùng bụng giữ một khoản thiếu hụt vĩnh viễn về sức chứa, và phần dư ra dồn sang chỗ khác. Bệnh nhân mô tả hiện tượng này là mỡ “chạy” đi nơi khác. Cách mô tả đó hợp lý với những gì họ nhìn thấy, dù thật ra không có gì di chuyển cả.
Tế bào mỡ có mọc lại không, hay chỉ những tế bào còn lại to ra?
Những tế bào còn lại to ra, và tế bào mới không xuất hiện. Số lượng tế bào mỡ, thuật ngữ y khoa gọi là số lượng adipocyte, gần như cố định từ đầu tuổi trưởng thành, nên cơ thể người lớn chứa phần năng lượng dư bằng cách bơm to những tế bào sẵn có.
Trong một nghiên cứu kinh điển dùng carbon-14 từ các vụ thử bom hạt nhân để xác định tuổi DNA của tế bào mỡ, các nhà nghiên cứu thấy tổng số tế bào mỡ giữ nguyên suốt tuổi trưởng thành ở cả người gầy lẫn người béo phì, kể cả sau khi giảm cân nhiều. Khoảng 10% tế bào mỡ được thay mới mỗi năm, nhưng quy mô của cả quần thể thì được cơ thể bảo vệ.
Phát hiện đó kéo theo một hệ quả trực tiếp lên phẫu thuật. Hút mỡ lấy tế bào ra khỏi quần thể, và cơ thể không khôi phục lại số lượng ấy ở vị trí đó. Một mô hình toán học về tăng trưởng mô mỡ ở chuột cho thấy phì đại mới là nguồn đóng góp chính vào mức tăng khối lượng đệm mỡ, còn tế bào mới sinh thêm được ít thể tích vì chúng khởi đầu với kích thước nhỏ. Phì đại đơn giản là các tế bào sẵn có căng phồng lên vì chứa mỡ. Vì số lượng tế bào mỡ ở người được giữ ở mức không đổi, chính sự căng phồng đó chứa phần cân nặng tăng thêm khi trưởng thành.
Ghép hai dữ kiện đó lại thì cơ chế trở nên đơn giản. Tế bào mỡ sống sót qua ca mổ vẫn có thể phồng lên gấp nhiều lần thể tích ban đầu, nên vùng đã hút, với ít tế bào hơn, kháng lại thay đổi lâu hơn vùng chưa hút vốn còn đủ quân số, nhưng nó không miễn nhiễm, và sẽ không bao giờ miễn nhiễm.

Tăng cân sau hút mỡ thì mỡ đi về đâu?
Cân nặng tăng lại được cất giữ ưu tiên ở những vùng chưa hút. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 32 phụ nữ không béo phì cho thấy tỷ lệ mỡ cơ thể giảm 2,1% ở tuần thứ sáu và trở về ngang bằng nhóm chứng không can thiệp sau một năm, với phần mỡ tái phân bố chủ yếu ở các vùng không hút, nhiều nhất là vùng bụng trên và ít hơn ở vai cùng cơ tam đầu cánh tay, trong khi vùng đùi đã hút vẫn giữ được mức giảm sau một năm.
Có một kiểu tái phân bố thứ hai, ít lộ ra hơn. Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên trên 36 phụ nữ cân nặng bình thường hút mỡ bụng thể tích nhỏ, mỡ nội tạng tăng khoảng 10% sau sáu tháng ở nhóm không tập luyện, kèm theo mức tiêu hao năng lượng giảm đo được, còn nhóm theo chương trình tập bốn tháng thì không tăng như vậy. Mỡ nội tạng nằm sau thành bụng, không nhìn thấy và không véo được, nên một người có thể quả quyết rằng mình không tăng lên chỗ nào cả trong khi vòng eo cứ nhích dần.

Cần nói thẳng một điều: không có dữ kiện nào ở trên biến hút mỡ thành một phương pháp điều trị chuyển hóa đáng tin. Trong nghiên cứu có kiểm soát tốt nhất về câu hỏi này, các nhà nghiên cứu lấy khoảng 10 kg mỡ từ 15 phụ nữ béo phì rồi đo độ nhạy insulin ở cơ, gan và mô mỡ, cùng với protein phản ứng C, interleukin-6, huyết áp và các chỉ số mỡ máu. Họ không thấy cải thiện đáng kể ở bất kỳ chỉ số nào tại thời điểm mười đến mười hai tuần. Các nghiên cứu sau này trên thể tích hút lớn hơn nhiều có ghi nhận vài thay đổi khiêm tốn về mỡ máu và đường huyết, nên nói cho sòng phẳng thì lấy mỡ dưới da chắc chắn đổi được hình dáng, còn lợi ích chuyển hóa như khi giảm cân thật sự thì không chắc chắn như vậy.
Tăng bao nhiêu cân thì hỏng kết quả hút mỡ?
Có hai ngưỡng khác hẳn nhau tùy vùng đã hút, và gần như không ai nói cho bệnh nhân biết điều này. Trong các ca mổ của tôi, vùng cổ và dưới cằm bắt đầu lộ ra chuyện tăng cân ở mức khoảng 2 đến 3 kg. Các vùng thân mình như bụng và đùi chịu được nhiều hơn hẳn, và tôi thường thấy đường nét bắt đầu nhòe đi ở quanh mức 5 đến 7 kg.
Tôi muốn nói thật chính xác về ý nghĩa của hai con số đó, vì chúng dễ bị hiểu sai. Đây không phải mốc mỡ đã quay lại. Đây là mốc mà một người soi gương nhận ra có gì đó đã đổi khác. Ngưỡng này thấp hơn ngưỡng đảo ngược về sinh học, và nó mới là ngưỡng quyết định người ta có thấy ca mổ xứng đáng hay không.
Dữ liệu công bố cũng cho thấy đúng như vậy. Trong một khảo sát gửi qua thư, 209 trên 600 bệnh nhân hút mỡ mổ trong giai đoạn 1999 đến 2003 gửi lại phiếu trả lời. Trong số đó, 43% cho biết đã tăng cân kể từ sau mổ, phần lớn tăng khoảng 2 đến 4,5 kg, đo ở thời điểm sáu tháng. Trong nhóm không tăng cân, 35% cho biết họ tập luyện nhiều hơn và 50% cho biết họ ăn uống tốt hơn. Ở nhóm tăng cân, tỷ lệ này chỉ là 10% và 22%, còn hai phần ba số người tăng cân cho biết họ không thay đổi chế độ ăn chút nào.
So sánh nhanh: hút mỡ vùng mặt cổ và hút mỡ cơ thể sau khi tăng cân trở lại
| Vùng cổ và dưới cằm | Bụng, hông eo, đùi | |
|---|---|---|
| Thể tích thường lấy ra | 30 đến 60 mL | 1.500 đến 4.000 mL |
| Tỷ lệ tế bào mỡ tại chỗ lấy đi | Thấp hơn, có chủ đích | Cao hơn |
| Mức tăng cân trước khi thấy thay đổi | 2 đến 3 kg | 5 đến 7 kg |
| Quần áo che được không | Không | Thường là có |
| Biên độ sai số đường nét | Rất hẹp | Vừa phải |
| Phụ thuộc vào độ co rút của da | Cao | Vừa phải |
| Nơi bệnh nhân nhận ra đầu tiên | Gần như luôn ở đây | Muộn hơn và mơ hồ hơn |

Vì sao vùng cằm lộ ra chuyện tăng cân trước cả vùng bụng
Bệnh nhân nhận ra sự trở lại ở gương mặt trước tiên, và điều đó làm họ ngạc nhiên vì đây không phải nơi phần lớn mỡ đi tới. Xét theo con số tuyệt đối, vùng thân mình hấp thụ nhiều thể tích tăng lại hơn hẳn, nhưng vùng cổ mới là nơi báo tin.
Ba yếu tố hội tụ ở đây. Thứ nhất, vùng dưới cằm được cố ý xử lý dè dặt. Hút vùng cổ quá tay tạo ra vẻ hõm hốc, trơ khung xương và làm lộ mọi chỗ gồ ghề, nên tỷ lệ mỡ tại chỗ lấy đi ở đây thấp hơn so với vùng bụng. Nhiều tế bào mỡ còn ở lại hơn, và những tế bào đó có thể to lên.
Thứ hai, không có gì che vùng cổ. Lớp mỡ dưới cằm dày thêm 2 mm là thấy ngay mỗi lần quay đầu, trong khi cũng 2 mm đó trên vùng bụng thì biến mất dưới bất kỳ món quần áo nào.
Thứ ba, vùng cổ có biên độ dung sai hẹp theo cả hai chiều. Đường nét hàm gọn gàng phụ thuộc vào một vệt bóng sắc nét duy nhất, và một thay đổi nhỏ ở lớp mỡ nằm dưới đó sẽ làm cả phần dưới khuôn mặt hoặc sắc nét hơn hoặc mềm nhũn đi. Người đi mổ chỉ vì muốn có đường viền hàm đang theo dõi đúng vùng nhạy cảm nhất trên cơ thể cho đúng kiểu thay đổi này, và sẽ bắt được nó ngay từ đầu.
Dung hòa quan sát này với dữ liệu tái phân bố đã công bố không khó, chỉ cần tách hai phép đo ra. Nghiên cứu thể tích dùng DXA và MRI đo nơi mỡ thật sự tích lại, và chúng chỉ về vùng bụng trên, cánh tay và vai. Quan sát lâm sàng đo nơi bệnh nhân cảm nhận đầu tiên, và đó là khuôn mặt. Cả hai đều đúng, chỉ là chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau.
Tôi hút mỡ như thế nào: các lớp mỡ, cỡ cannula và chủ ý lấy thiếu
Tôi làm việc ở lớp mỡ sâu và lớp trung gian, và giữ cho lớp mỡ nông sát dưới da nguyên vẹn hết mức có thể. Đây không phải sở thích cá nhân. Giữ lại lớp nông chính là thứ ngăn da bị lõm rỗ, gợn sóng và nhấp nhô, những khuyết điểm khó sửa hơn nhiều so với phần đầy ban đầu. Việc nhìn lớp mỡ dưới da như những tầng riêng biệt ngăn cách bởi hệ cân nông đã là kiến thức giải phẫu chuẩn từ giữa thập niên 1990, và chính các phẫu thuật viên mô tả những lớp đó lại ủng hộ chủ động hút cả lớp sát da để da co rút tốt hơn. Tôi biết y văn đó và tôi đã chọn ngược lại cho các ca thường quy, vì phần co rút thêm được thì khiêm tốn trong khi hậu quả nếu làm hỏng là một chỗ gồ ghề vĩnh viễn trên bề mặt, chứ không phải một lỗi còn sửa lại được.
Về cỡ kim đầu tù (cannula), tôi giữ ở mức 3 đến 5 mm cho bụng, hông eo và đùi, hạ xuống 3 mm cho cánh tay, gối và bắp chân. Ở mặt và cổ tôi không dùng quá 2,0 đến 2,5 mm. Cannula nhỏ lấy mỡ chậm hơn, và ở vùng cổ thì chính sự chậm đó là toàn bộ mục đích. Có tới 9% bệnh nhân hút mỡ ghi nhận biến dạng đường nét, và theo danh sách biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn, đứng đầu là cannula đường kính nhỏ hơn và tránh mặt phẳng nông, kế đến là đi chéo từ nhiều điểm vào nhỏ, và cố ý lấy thiếu một chút để chừa chỗ cho hiện tượng tan mỡ, tức là quá trình tự phân hủy của các tế bào mỡ tổn thương trong ca mổ.

Dung dịch bơm vào theo công thức tumescent tiêu chuẩn: một lít nước muối sinh lý pha 500 đến 1.000 mg lidocaine, 1 mg epinephrine nồng độ 1:1.000 và 12,5 mEq natri bicarbonat, cho ra nồng độ lidocaine cuối cùng 0,05 đến 0,1% và epinephrine 1:1.000.000. Tôi bơm khoảng ba đến bốn mililít cho mỗi mililít định hút ra, và giữ tổng lượng hút trong vòng 5.000 mL mỗi lần mổ. ASPS xếp mọi trường hợp vượt quá 5.000 cc tổng lượng hút, gồm cả mỡ lẫn dịch, là hút mỡ thể tích lớn và phải làm ở bệnh viện có cấp cứu hoặc cơ sở được thẩm định, có theo dõi sinh hiệu và lượng nước tiểu qua đêm. Bản khuyến cáo đó nói thẳng rằng không có dữ liệu nào xác lập một thể tích tối đa tuyệt đối, chỉ có bằng chứng rằng nguy cơ tăng theo lượng hút và theo số vùng can thiệp, nên tôi coi con số này là giới hạn làm việc chứ không phải một điều luật.
Ở vùng cổ tôi cố ý lấy ra ít hơn mức có thể lấy. Phẫu thuật viên nào cũng học được cách lấy thiếu một chút, vì tế bào mỡ tổn thương còn tiếp tục phân hủy nhiều tuần sau đó và vùng đã hút vẫn tự nhỏ thêm. Ở vùng mặt tôi nới biên độ đó rộng hơn cả mức sách giáo khoa cho phép. Một chiếc cổ còn hơi đầy ở mốc ba tháng có thể sửa bằng một can thiệp nhỏ lần hai, còn một chiếc cổ đã bị hút rỗng, để lộ các dải cơ dọc của cơ cổ và da dính sát vào xương hàm, thì thường không sửa lại được nữa. Chính sự chênh lệch hậu quả đó quyết định lựa chọn của tôi.
Khi nào VASER tốt hơn hút mỡ truyền thống?
Tôi bắt đầu phần lớn các ca bằng hút mỡ hỗ trợ bằng lực hút thông thường, và chỉ với tới sóng siêu âm trong bốn tình huống cụ thể. Khi mô cảm giác xơ chai dưới đầu cannula, khi tôi mổ trong vùng có dính từ lần mổ trước, khi da cần mọi chút co rút có thể vét được, và khi mục tiêu là tạo rãnh sắc nét dọc theo bờ các khối cơ.
Mô xơ là chỉ định rõ nhất. Mô ngực nam trong bệnh nữ hóa tuyến vú và lớp mỡ đặc ở lưng trên kháng lại một cannula trần, và ép dụng cụ đi qua sẽ tạo ra các mặt phẳng lồi lõm thay vì lấy mỡ đều. Sóng siêu âm nhũ tương hóa mỡ trước, và một thử nghiệm ba nhánh trên 45 bệnh nhân nữ hóa tuyến vú cho thấy mô chắc phía sau núm vú giảm nhiều gấp khoảng ba đến bốn lần khi có hỗ trợ siêu âm so với hút mỡ truyền thống đơn thuần. Cũng trong thử nghiệm đó, độ săn chắc da đo được chỉ cải thiện có ý nghĩa khi bổ sung một thiết bị làm săn da riêng, là sóng RF plasma helium. Riêng sóng siêu âm không làm săn da, và đây là một đính chính hữu ích cho cách công nghệ này thường được quảng bá.
Có một giới hạn đáng nói thẳng, vì bệnh nhân thường được nghe điều ngược lại. Trong các ca mổ của tôi, không dạng hút mỡ nào chắc chắn lấy được mô tuyến vú chắc, và khi có thành phần tuyến thật sự, tôi lên kế hoạch cắt bỏ chứ không trông chờ thiết bị làm tan nó. Một số nhóm báo cáo rằng bổ sung năng lượng làm săn da giúp giảm nhu cầu cắt bỏ ở thì hai, và điều đó có thể đúng khi họ thực hiện. Ngưỡng chỉ định cắt bỏ của riêng tôi thì không đổi: sóng siêu âm thay đổi cách mỡ ứng xử, chứ không thay đổi bản chất của mô tuyến.
Da đã chùng rồi thì có hút mỡ được không?
Được, nhưng kết quả là một sự đánh đổi chứ không phải cách sửa chữa, và phải hiểu đúng như vậy trước khi mổ. Tôi không tự động từ chối một người có da cổ nhão muốn hút mỡ đơn thuần, và tôi biết điều này khác với lời khuyên thông thường. Thay vào đó, tôi nói rõ nguy cơ và bảo đảm rằng bệnh nhân nhắc lại được nguy cơ ấy cho tôi nghe trước khi chúng ta tiến hành.
Lập luận của tôi đơn giản. Độ đàn hồi của da là yếu tố dự báo mạnh nhất cho việc một chiếc cổ sẽ trông thế nào sau khi lấy mỡ, và làn da đã mất sức bật sẽ không co lại ôm lấy một đường viền hàm vừa được làm rõ. Nó chảy xuống. Nói với người đó rằng không mổ được là không chính xác, vì mỡ chắc chắn lấy ra được và một số người hài lòng với sự đánh đổi ấy. Không nói gì mà cứ mổ mới là điều không thể biện hộ.
Cuộc trò chuyện vì thế trở nên cụ thể. Da sẽ không co lại như hồi ba mươi tuổi, đường viền hàm sẽ sắc hơn nhưng phần vỏ da đã lỏng có thể chùng xuống, và nếu điều đó xảy ra thì cách sửa là nâng cổ hoặc căng da mặt deep plane chứ không phải hút mỡ thêm. Với người muốn tránh hoàn toàn phẫu thuật lên phần vỏ da, làm săn da bằng năng lượng là một lựa chọn một phần với kết quả cũng chỉ một phần tương ứng. Người hiểu điều đó mà vẫn muốn lấy mỡ đi là người đang quyết định trên cơ sở đầy đủ thông tin, và tôi thấy thoải mái khi mổ trên nền tảng ấy.
Bạn thuộc nhóm bệnh nhân hút mỡ nào?
Người cân nặng ổn định, chỉ muốn chỉnh đường nét. Cân nặng dao động trong vòng vài kg suốt một năm trở lên, mối lo là một túi mỡ cụ thể chứ không phải kích thước tổng thể, và chất lượng da tốt. Kết quả ở nhóm này giữ được lâu nhất, và cuộc trao đổi về chuyện tăng cân trở lại chủ yếu mang tính phòng ngừa.
Người vừa giảm được nhiều cân. Cân đã xuống, dáng thì chưa theo kịp, và có một cám dỗ mạnh muốn hoàn tất phần còn lại bằng phẫu thuật. Vấn đề ở đây là thời điểm chứ không phải chỉ định, vì mổ trước khi cân nặng ổn định nghĩa là tạo hình một cơ thể vẫn đang thay đổi.
Người coi hút mỡ như cách giảm cân. Vấn đề của nhóm này là kỳ vọng, không phải giải phẫu. Hút mỡ là ca mổ tạo đường nét chứ không phải cách điều trị bệnh chuyển hóa, và người không thay đổi gì trong ăn uống lẫn vận động chính là người dễ gia nhập nhất vào tỷ lệ không nhỏ những ca báo cáo tăng cân sau mổ.
Người chỉ hút vùng dưới cằm. Mối lo giới hạn ở đường viền hàm và nọng cằm, và mức chịu đựng thay đổi ở đây thấp nhất trong các nhóm, vì 2 đến 3 kg là đã lộ. Tư vấn thực tế ở nhóm này bàn về giữ cân chẳng kém gì bàn về ca mổ. Khi túi mỡ đủ nhỏ, một lựa chọn không phẫu thuật như tạo đường nét cơ thể bằng vi sóng có thể hợp hơn là lên bàn mổ.
Hồi phục mất bao lâu, và khi nào tập luyện lại được?
Áo định hình mặc gần như liên tục trong hai đến ba tuần đầu, sau đó mặc cả ngày cho tới khoảng tuần thứ sáu, rồi giảm dần khi hết sưng. Vận động khởi động lại bằng đi bộ nhẹ trong hai tuần đầu, tập tim mạch nhẹ ở tuần thứ ba đến thứ tư, tập vừa sức ở tuần thứ năm đến thứ sáu, và tập không giới hạn sau tuần thứ sáu. Sưng đi theo lịch riêng dài hơn, và đường nét cuối cùng phải ba đến sáu tháng mới nhìn ra.
Đây là phần hồi phục mà phần lớn bài viết coi như chuyện phụ trong khi bằng chứng lại coi là trung tâm. Quay lại tập luyện sau tuần thứ sáu không đơn thuần là được phép trở về nếp sống bình thường. Trong thử nghiệm ngẫu nhiên trên những phụ nữ hút mỡ bụng, nhóm để ít vận động phát sinh mức tăng bù mỡ nội tạng sau sáu tháng, còn nhóm theo chương trình tập bốn tháng thì không. Tập luyện chính là can thiệp ngăn được dạng tăng mỡ ít lộ nhất và bất lợi nhất về chuyển hóa.
Điều đó đặt lại toàn bộ cuộc trò chuyện. Tuần thứ sáu không phải mốc bệnh nhân được phép tập. Đó là mốc họ cần phải tập, và kết quả phẫu thuật phụ thuộc vào chuyện này theo cách không một chiếc áo định hình nào thay thế nổi.

Góc nhìn của bác sĩ
Tôi đưa ra con số 2 đến 3 kg ngay trong buổi tư vấn, trước khi xếp lịch bất cứ thứ gì, và một vài người nghe xong thì quyết định không mổ. Tôi coi đó là những buổi tư vấn tốt chứ không phải những ca đã mất. Một người có cân nặng nhảy 5 kg giữa mùa đông và mùa hè không hẳn là ứng viên kém cho hút mỡ nói chung, mà là ứng viên kém cho riêng hút mỡ dưới cằm, và sự phân biệt đó đáng được nói to ra thay vì cùng nhau phát hiện sau một năm. Người có cân nặng lên xuống vẫn giữ được một kết quả bụng bền lâu. Đường viền hàm thì không tha thứ cho cùng biên độ dao động ấy.
Hút mỡ có những rủi ro và biến chứng gì?
Gồ ghề đường nét là biến chứng bệnh nhân sợ nhất và cũng là biến chứng gắn chặt nhất với kỹ thuật. Hút quá nông và dùng cannula quá to đều tạo ra da gợn sóng, khó sửa hơn nhiều so với phần đầy ban đầu, và kỹ thuật đi đường hầm chéo, tức là tiếp cận mỗi vùng từ nhiều điểm vào nhỏ theo nhiều góc khác nhau, được mô tả là điều kiện thiết yếu để lấy mỡ đều và kiểm soát được kết quả.
Tụ dịch (seroma), sưng kéo dài và tê tạm thời là những chuyện thường gặp và tự khỏi. Nguy cơ liên quan tới thể tích tăng theo quy mô ca mổ. Một tổng quan hệ thống trên 3.583 bệnh nhân hút mỡ thể tích lớn, với lượng hút trung bình 7.735 mL, ghi nhận biến chứng nặng ở 3,35% và biến chứng nhẹ ở 11,62%. Trong đó, tụ dịch chiếm 5,51%, thuyên tắc phổi chiếm 0,18% và huyết khối tĩnh mạch sâu chiếm 0,12%, không có ca tử vong nào. Chính nhóm tác giả đó lưu ý cẩn thận rằng bằng chứng hiện có mang tính quan sát chứ không phải ngẫu nhiên có đối chứng.
Da chùng không hẳn là biến chứng, mà là một tình trạng vốn có nay lộ ra. Lấy đi lớp mỡ đang làm căng một lớp vỏ da lỏng lẻo không làm lớp vỏ đó chặt lại, và người đã được tư vấn trước về điều này sẽ trải nghiệm nó như một đánh đổi đã lường trước chứ không phải một thất bại phẫu thuật.
Câu hỏi đáng hỏi hơn
Hỏi mỡ có quay lại không là hỏi về mô. Câu hỏi hữu ích hơn là câu hỏi về con người: năm năm tới cân nặng của tôi sẽ đi theo hướng nào, và cơ thể tôi cất cân nặng ở đâu khi nó đến?
Hai câu trả lời đó dự báo độ bền của kết quả hút mỡ tốt hơn nhiều so với bất kỳ chi tiết kỹ thuật nào của ca mổ. Người có cân nặng ổn định nhiều năm và tập luyện đều đặn sẽ giữ được đường nét trong thời gian dài, còn người sắp bước vào một giai đoạn nhiều biến động sẽ thấy rằng phẫu thuật đã đổi hướng cho biến động đó chứ không ngăn được nó.
Sinh học của tế bào mỡ không phải biến số ở đây. Kỹ thuật mổ quyết định kết quả ban đầu có mượt hay không, và quyết định bao nhiêu phần sức chứa tại chỗ đã mất đi, nhưng nó không quyết định bệnh nhân làm gì sau đó. Chọn một bác sĩ giải thích điều này thay vì hứa hẹn sự vĩnh viễn tự nó đã là một phép sàng lọc hữu ích.
Bài viết bởi Bác sĩ Lee Yongwoo, bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ tại VIP Plastic Surgery, Hàn Quốc, chuyên sâu về giải phẫu vùng mặt và các thủ thuật thẩm mỹ.
Câu hỏi thường gặp về hút mỡ và tăng cân trở lại
Hút mỡ xong mỡ có quay lại không?
Không quay lại ở vùng đã hút. Tế bào mỡ lấy ra trong ca hút mỡ không tái sinh, vì số lượng adipocyte đã cố định ở tuổi trưởng thành. Cân nặng tăng thêm sau đó được cất giữ bằng cách phình to những tế bào mỡ còn lại, và phần lớn đi về những vùng chưa từng hút.
Tăng bao nhiêu cân thì hỏng kết quả hút mỡ?
Tùy vùng. Vùng cổ và dưới cằm bắt đầu lộ thay đổi ở khoảng 2 đến 3 kg, còn vùng bụng và đùi nói chung chịu được 5 đến 7 kg trước khi đường nét nhòe đi. Đây là ngưỡng của thay đổi nhìn thấy được, không phải ngưỡng đảo ngược về sinh học.
Tăng cân sau hút mỡ thì mỡ đi vào đâu?
Vào những vùng chưa can thiệp. Một thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy mỡ tái phân bố chủ yếu về vùng bụng trên, cánh tay và vai trong vòng một năm. Vùng đùi đã hút vẫn giữ mức giảm sau một năm, trong khi mức giảm ở vùng bụng thì đã biến mất. Còn có mức tăng bù mỡ nội tạng ở những người không tập luyện.
Vì sao mặt tôi trông đầy hơn sau khi hút mỡ vùng thân?
Vì khuôn mặt báo tin thay đổi cân nặng sớm hơn những vùng có quần áo che. Vùng cổ được cố ý xử lý dè dặt, không có gì che, và đường nét của nó phụ thuộc vào một vệt bóng hàm duy nhất, nên chỉ cần lớp mỡ dưới cằm tăng chút ít là thấy ngay, dù phần mỡ tăng lại nhiều hơn đã đi nơi khác.
Tế bào mỡ có mọc lại ở vùng đã hút không?
Số lượng tế bào mỡ không tăng thêm ở tuổi trưởng thành, nên không có tế bào mới nào đến chiếm chỗ ở vùng đã hút. Khoảng 10% adipocyte được thay mới hằng năm, nhưng tổng quần thể được giữ ở mức không đổi chứ không mở rộng ra.
Hút mỡ có vĩnh viễn không?
Việc lấy đi tế bào mỡ là vĩnh viễn. Độ bền của vẻ ngoài thì không được bảo đảm, vì những tế bào còn lại trên khắp cơ thể vẫn có thể to lên khi tăng cân và tương quan tổng thể của vóc dáng có thể đổi theo thời gian.
Hút mỡ có cải thiện sức khỏe hay chuyển hóa không?
Không đáng tin cậy. Nghiên cứu có kiểm soát tốt nhất đã đo độ nhạy insulin, các chỉ dấu viêm, huyết áp và mỡ máu sau hút mỡ bụng ở phụ nữ béo phì và không thấy cải thiện đáng kể ở mốc mười đến mười hai tuần. Các tổng quan về những ca thể tích lớn hơn nhiều có ghi nhận thay đổi khiêm tốn ở chỉ số mỡ máu và đường huyết, nhưng nên hiểu hút mỡ là ca mổ tạo đường nét chứ không phải cách điều trị bệnh chuyển hóa.
Sau hút mỡ phải mặc áo định hình bao lâu?
Mặc liên tục trong hai đến ba tuần đầu, sau đó mặc cả ngày cho tới khoảng tuần thứ sáu, rồi giảm dần khi hết sưng. Thời gian chính xác thay đổi theo lượng mỡ lấy ra và các vùng đã can thiệp.
Hút mỡ xong bao lâu thì tập lại được?
Đi bộ nhẹ trong hai tuần đầu, tập tim mạch nhẹ ở tuần thứ ba đến thứ tư, tập vừa sức ở tuần thứ năm đến thứ sáu, và tập đầy đủ sau tuần thứ sáu. Quay lại tập luyện quan trọng hơn phần lớn bệnh nhân hình dung, vì nhóm ít vận động trong một thử nghiệm ngẫu nhiên đã phát sinh mức tăng bù mỡ nội tạng mà nhóm có tập thì không.
Có cần về đúng cân nặng mục tiêu rồi mới hút mỡ không?
Cân nặng ổn định quan trọng hơn một con số cụ thể. Mổ trong giai đoạn cân nặng đang thay đổi nghĩa là tạo hình một cơ thể vẫn đang chuyển động, và kết quả sẽ kém dự đoán hơn. Ổn định vài tháng trước mổ cho kết quả đáng tin cậy nhất.
VASER khác hút mỡ truyền thống ở chỗ nào?
VASER dùng sóng siêu âm nhũ tương hóa mỡ trước khi hút ra, giúp ích khi mô xơ chai, khi mổ lại trong vùng có sẹo, khi cần da co rút thêm phần nào, và khi muốn tạo rãnh cơ sắc nét. Với mỡ mềm và nhu cầu giảm thể tích đơn thuần, hút mỡ hỗ trợ bằng lực hút thông thường là đã đủ.
Hút mỡ có làm săn da chùng không?
Không đáng tin cậy. Da co rút được đến đâu phụ thuộc vào độ đàn hồi còn lại, và lấy mỡ khỏi một lớp vỏ da đã nhão có thể làm chỗ chùng lộ rõ hơn. Người có da chùng nhiều thường cần một phương pháp nâng hoặc làm săn bằng năng lượng, kèm theo hoặc thay cho lấy mỡ.
Một lần mổ hút được bao nhiêu mỡ?
Thực hành chuẩn giữ tổng lượng hút trong khoảng 5.000 mL mỗi lần mổ. Vượt quá mức đó được xếp là hút mỡ thể tích lớn và cần làm ở bệnh viện có cấp cứu hoặc cơ sở được thẩm định, với theo dõi sinh hiệu và lượng nước tiểu qua đêm. Không có dữ liệu công bố nào xác lập một thể tích tối đa tuyệt đối, chỉ có bằng chứng rằng nguy cơ tăng lên khi lượng hút và số vùng can thiệp tăng.
Kết quả có bị lồi lõm hay không đều không?
Gồ ghề đường nét là biến chứng thẩm mỹ hay gặp nhất và phần lớn phụ thuộc vào kỹ thuật. Giữ lại lớp mỡ nông sát dưới da, dùng cannula nhỏ hơn, đi đường hầm chéo từ nhiều điểm vào và cố ý lấy thiếu một chút là những cách phòng vệ tiêu chuẩn.
Hút mỡ xong mà mang thai thì mỡ có quay lại không?
Thai kỳ đi kèm thay đổi cân nặng lớn và chuyển dịch nội tiết trong phân bố mỡ, nên tương quan của vóc dáng sẽ đổi. Vùng đã hút còn ít tế bào mỡ hơn và thường tăng ít hơn vùng chưa hút, nhưng đường nét tổng thể mà ca mổ tạo ra khó giữ nguyên vẹn.
Mỡ hút ra có dùng để cấy mỡ tự thân được không?
Mỡ hút ra có thể xử lý rồi chuyển sang vị trí khác, và đây là thực hành phổ biến. Tỷ lệ mỡ cấy sống được là một câu hỏi riêng với sinh học riêng của nó, bàn kỹ hơn trong bài về thực sự bao nhiêu phần mỡ cấy sống sót.
Bài viết chỉ mang tính thông tin, không thay thế chẩn đoán hay tư vấn y khoa. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ có chuyên môn trước khi quyết định làm bất kỳ phẫu thuật hay thủ thuật nào.
