Bao nhiêu tuổi thì nên căng da mặt? Ngày sinh nhật là đơn vị đo sai
Bao nhiêu tuổi thì nên căng da mặt: câu trả lời không nằm ở ngày sinh, và lý do thì đáng nghe hơn hẳn câu trả lời cho qua vẫn đi kèm nó. Ca căng da mặt ở tuổi 45 và ca căng da mặt ở tuổi 68 là cùng một ca mổ, làm trên hai loại mô khác nhau. Chỗ khác nhau giữa hai khuôn mặt ấy không phải mức nguy hiểm, cũng không phải kỹ thuật. Khác nhau ở chỗ lớp nào đã đổi, và ca mổ có với tới lớp đó không. Trên 11.300 ca căng da mặt với tuổi trung bình 59,2, tuổi không phải yếu tố dự báo độc lập của biến chứng. Biến chứng nặng chạy ở mức 1,8%, tụ máu (hematoma) 1,1%, nhiễm trùng 0,3%. Thứ dự báo được rắc rối là giới nam, chỉ số khối cơ thể từ 25 trở lên, và chuyện làm ca nâng chung với những ca mổ khác.
Ngày sinh vì thế gần như chẳng nói lên điều gì, không phải giấy phép mà cũng không phải lời cảnh báo. Bệnh nhân bước vào phòng khám với niềm tin rằng 45 là quá sớm còn 70 là quá muộn, và cả hai niềm tin đều lấy tờ lịch thay cho mô. Xương, mỡ sâu, phần mô nằm giữa các dây chằng giữ, và da: mỗi thứ chạy theo một cái đồng hồ riêng.
Phần dưới đây đi từng lớp một, xem cái gì đã đo được, rồi ghép mỗi lớp với phương pháp với tới nó. Ba phát hiện đi ngược lại thứ bệnh nhân vẫn được nghe. Chưa phép đo nào thấy dây chằng giữ yếu đi theo tuổi, còn phần mỡ má thì hao đi gần như xong trước tuổi trung niên. Ở khuôn mặt người Hàn Quốc thì bờ hốc mắt không rộng ra ở mức đo được.
Câu hỏi thật là lớp nào đã đổi, và ca mổ có với tới lớp đó không
Có bốn lớp già đi, và không ca mổ nào chạm được quá hai lớp trong số đó. Xương tiêu ở những vị trí cụ thể, nên phần nền đỡ mọi thứ bên trên cũng đổi theo. Các khoang mỡ sâu mất thể tích, nên lớp vỏ da từng được lấp đầy nay rủ xuống lỏng lẻo. Phần mô mềm thì trượt đi giữa những dây chằng giữ vẫn đứng nguyên chỗ cũ. Da mất collagen, mất độ dày, và trên hết là mất khả năng bật lại.
Căng da mặt là ca mổ trên lớp thứ ba. Nó cắt các điểm neo, đưa tấm mô nằm giữa chúng lên trên và ra sau, rồi đóng da lại mà không đặt tải lên da. Ca nâng không trả lại phần đã xẹp, không dựng lại xương hàm trên đã tiêu, cũng không làm dày lớp bì. Lẫn lộn chỗ này là nguyên nhân của phần lớn nỗi thất vọng sau các ca mổ vùng mặt. Một tầng giữa mặt đã hõm, với đường viền hàm còn sạch, nhận một ca nâng đúng kỹ thuật, rồi bệnh nhân kể rằng mặt trông bị kéo mà vẫn mệt mỏi. Không có gì hỏng cả. Sai lớp.
Tuổi chỉ hữu ích như một phỏng đoán thô về những lớp nhiều khả năng đã nhập cuộc. Riêng một dữ kiện dài hạn thì đi ngược lại nỗi sợ đang đẩy phần lớn các buổi tư vấn sớm. Trong một tổng quan về kết quả căng da mặt theo dõi dài hạn, nhóm bệnh nhân mổ trước tuổi 50 báo cáo mức hài lòng tốt hơn nhiều năm sau đó. Nghiên cứu đó không đo vì sao.
Khuôn mặt già đi ở đâu: xương, mỡ sâu, phần mô giữa các dây chằng và da
Lão hóa khuôn mặt là bốn quá trình chạy trên bốn cái lịch khác nhau, và không phải quá trình nào cũng đảo ngược được như nhau. Xương tiêu ở những điểm xác định và không quay lại. Các khoang mỡ sâu xẹp đi, phần lớn là sớm. Phần mô nằm giữa những dây chằng cố định thì trượt, mà cái trượt ấy đặt lại được. Da mất độ bật, thứ cải thiện được nhưng không khôi phục được.

Xương: phần nền lùi lại, ở những điểm cụ thể và theo lịch riêng của từng nhóm dân số
Xương mặt không teo đều, nó tiêu ở những chỗ nhất định. Trong nghiên cứu chụp cắt lớp vi tính trên 120 người chia làm ba dải tuổi, góc vùng gian mày và góc xương hàm trên giảm, chiều dài cùng chiều cao xương hàm dưới giảm, còn góc hàm thì mở ra. Có một con số trích được, lấy từ tổng quan giải phẫu khuôn mặt lão hóa: góc xương hàm trên ở nhóm trên 60 tuổi nhỏ hơn nhóm dưới 30 tuổi khoảng 10 độ. Phần tiêu ở bờ hốc mắt dưới ngoài đã có từ tuổi trung niên, còn bờ trên trong thì chỉ ở tuổi già.
Đến đây thì mô tả chuẩn thôi không còn nói về người đang đọc trang này nữa. Trên 107 người Hàn Quốc so giữa nhóm 20 đến 35 tuổi và nhóm từ 60 tuổi trở lên, chiều cao và diện tích lỗ vào hốc mắt không đổi có ý nghĩa, mức chênh trung bình chưa tới khoảng 0,1 mm. Trên 54 người Đông Á chụp ở tuổi hai mươi, tuổi bốn mươi và tuổi sáu mươi, trần và sàn hốc mắt khác nhau giữa tuổi hai mươi với tuổi bốn mươi, rồi đi ngang. Sách giáo khoa phương Tây mô tả bờ hốc mắt rộng dần cho tới tuổi già, mà với bệnh nhân Hàn Quốc thì mô tả đó không đúng. Còn những phác họa rộng hơn về khuôn mặt châu Á thì thuộc loại khác. Mô hình khái niệm về một tầng giữa mặt rộng hơn, bẹt hơn, mô mềm nặng hơn và da dày hơn là ý kiến, chứ không phải phép đo.
Giới tính cũng đổi cái lịch ấy. Trong ảnh quét ba chiều 88 khuôn mặt từ 26 đến 90 tuổi, đo trên 585 điểm, hai giới đi theo quỹ đạo giống nhau cho tới quãng 50 tuổi, sau đó quỹ đạo của nữ bẻ ngoặt. Thứ dự báo nó tốt nhất là số năm kể từ kỳ kinh cuối, còn phần lớn thay đổi thì quy cho xương hàm dưới tiêu đi.
Mỡ sâu: hao nhiều ở giai đoạn đầu, và gần như xong trước tuổi trung niên
Mỡ má không chảy đều từ tuổi 30 tới tuổi 80, vì phần lớn chỗ hao đã xảy ra xong trước tuổi trung niên. Trong nghiên cứu MRI trên 58 phụ nữ chia nhóm trẻ, nhóm trung niên và nhóm cao tuổi, mô dưới da ở má phía trong mỏng hơn 3,3 mm ở nhóm trung niên, 3,2 mm ở nhóm cao tuổi. Má phía ngoài mỏng hơn 2,4 mm ở cả hai phép so. Mô dưới hốc mắt mỏng hơn 1,6 rồi 2,2 mm, còn độ dày vùng thái dương đo được 12,3, 8,4 và 8,9 mm. Nhóm tác giả đặt phần thay đổi mạnh nhất vào khoảng từ 30 đến 60 tuổi.
Mỡ nằm trong những khoang riêng biệt, và công trình bơm màu trên xác đã xác lập rằng khuôn mặt không già đi như một khối liền hay một khối hợp nhất. Khảo sát 14 nửa mặt ở lớp mỡ má sâu phía trong (deep medial cheek fat) cho thấy hệ quả của phần thể tích mất đi. Lớp vỏ da còn lại có nhiều bề mặt hơn phần bên trong nó, trạng thái gọi là sa trễ giả (pseudoptosis). Trong 12 đầu xác so giữa nhóm 54 đến 75 tuổi và nhóm 75 đến 104 tuổi, các khoang nằm xa bờ dưới hốc mắt hơn, còn một phần ba dưới của khuôn mặt thì đầy hơn.
Ở lớp mỡ còn một phát hiện nên nhớ kỹ. Trong những tấm ảnh chụp cùng một người cách nhau 10 đến 50 năm rồi chồng lên nhau, chỗ nối mí dưới với má giữ nguyên vị trí, và nó hiện ra nhờ tương phản chứ không nhờ tụt xuống. Nốt ruồi cùng các nếp nhăn của cơ vòng mi cũng đứng yên qua nhiều thập niên.
Phần mô giữa các dây chằng: điểm neo đứng yên, mô ở giữa trượt xuống
Chưa phép đo nào thấy dây chằng giữ (retaining ligament) giãn ra theo tuổi. Đó là điều ngược hẳn với lời giải thích quen thuộc trong phòng tư vấn, mà cả hai nghiên cứu từng xem xét chuyện này đều chỉ về hướng ngược lại. Theo mô tả gốc về các dây chằng giữ của má, có bốn dây chằng chạy từ lớp cân sâu hoặc từ xương lên tới lớp bì. Đó là dây chằng gò má, dây chằng vùng hàm, dây chằng nối cơ bám da cổ (platysma) với tai, và dây chằng nối cơ bám da cổ với da phía trước. Chúng níu da mặt lại trước thay đổi do trọng lực, và vạch ra bờ trước của phần chảy xệ hai bên hàm. Muốn mô đi lên tối đa thì phải cắt đứt chúng, mà công trình về sau gọi vị trí của chúng là hằng định giữa người này với người khác.
Giờ tới phần cơ sinh học. Trong thử nghiệm trên xác với bốn dây chằng, dây chằng gò má khỏe nhất và cứng nhất, sau nó là dây chằng hốc mắt, rồi tới dây chằng vùng hàm cùng dây chằng xương hàm trên. Kích thước và các tính chất lý sinh không thay đổi theo nửa mặt, theo tuổi hay theo giới. Còn có nghiên cứu duy nhất phân tầng theo tuổi trên nhóm cấu trúc này, làm trên chuột. Tỉ lệ collagen týp I so với týp III tăng từ 1,74 lên 3,93 rồi 5,58, qua nhóm non, nhóm trung niên và nhóm trưởng thành. Dây chằng cứng hơn và giống lớp cân hơn, chứ không lỏng hơn. Đây là nghiên cứu trên động vật.
Cơ chế thì cụ thể chứ không mơ hồ. Điểm cố định đứng yên trong khi mô giữa chúng xẹp xuống rồi trượt đi, còn nếp gấp hình thành đúng ở chỗ một điểm neo níu da lại trước phần mô đang trôi qua nó. Vậy nên phần chảy xệ hai bên hàm và rãnh mũi má (nasolabial fold) xuất hiện ở những tọa độ đoán trước được, trên những khuôn mặt rất khác nhau. Cũng vậy nên cắt điểm neo thì mô di chuyển, còn siết chống lại nó thì không.
Da: độ bật mất trước độ săn chắc, và mãn kinh đẩy nhanh chuyện đó
Da mất khả năng hồi lại sau khi bị kéo giãn nhanh hơn mất độ cứng, và chính chỗ đó quyết định một khuôn mặt đáp ứng thế nào với phẫu thuật. Trong phép đo cutometry trên 300 người từ 20 đến 74 tuổi, mọi chỉ số đều giảm theo tuổi, nhưng các chỉ số thuộc pha hồi phục giảm nhiều hơn. Một khuôn mặt có thể véo lên thấy săn mà gần như không còn độ bật, và làn da như vậy sẽ không co lại theo khung mới sau một ca nâng. Đó đúng là tính chất đứng sau kết quả bị kéo mà trang này mô tả trong bài vì sao có những ca căng da mặt trông như bị gió thổi.
Độ dày cũng giảm, và giảm không đều. Trong siêu âm tần số cao trên 118 người trưởng thành, độ dày lớp bì ở nữ giảm theo tuổi tại trán, vùng gian mày, gò má và vùng dưới hàm. Mạnh nhất là ở gò má, còn ở nam thì chỉ riêng gò má đạt mức có ý nghĩa. Collagen cũng giảm theo tuổi, và ở nữ thấp hơn nam ở mọi lứa tuổi, theo nghiên cứu kinh điển về collagen da và tuổi. Qua giai đoạn mãn kinh, phần mất đi dốc hẳn. Y văn cho rằng collagen da giảm tới 30% trong năm năm đầu sau mãn kinh. Sau đó là khoảng 2% cho mỗi năm sau mãn kinh, còn độ dày da giảm khoảng 1,13% mỗi năm.
Cơ là lớp bệnh nhân hay đổ lỗi nhất. Trong ảnh MRI của 20 phụ nữ tuổi 16 đến 30 và trên 59, các cơ biểu cảm không khác nhau có ý nghĩa về chiều dài, độ dày, thể tích, cũng không khác về mức thâm nhiễm mỡ. Cơ biểu cảm không phải thứ chảy xuống, nên siết một tấm cơ là siết đúng thứ đã không đổi. Đó là khác biệt trình bày trong bài căng da mặt deep plane và SMAS.
Tuổi 40, 50, 60 và 70 đổi những gì: dữ liệu đặt được gì vào mỗi mốc
Mỗi thập niên dưới đây chỉ dựng từ những phát hiện mà nguồn đặt đúng vào khoảng tuổi đó, nên các mục này ngắn hơn một bài hướng dẫn theo độ tuổi thông thường. Gần như toàn bộ bằng chứng ở đây là cắt ngang: những người khác nhau đem so ở những tuổi khác nhau, chứ không phải một người theo dõi xuyên suốt. Ranh giới thập niên chỉ là chuyện tiện tay, bởi các nghiên cứu dùng những dải như 21 đến 30, 41 đến 50 và 61 đến 70.

Tuổi 40: phần xẹp đã xảy ra gần hết, còn khung thì vẫn nguyên
Tới tuổi bốn mươi thì phần mỡ hao đi đã xảy ra gần hết, nên bệnh nhân ở thập niên này thường kể mình trông mệt chứ không kể mình chảy xệ. Mô má phía trong ở nhóm trung niên trong nghiên cứu MRI mỏng hơn nhóm trẻ 3,3 mm, còn nhóm cao tuổi mỏng hơn cũng chính nhóm trẻ đó 3,2 mm, tức là không hao thêm nữa. Độ dày vùng thái dương thì đã đi từ 12,3 xuống 8,4 mm.
Thay đổi ở xương tại đây gắn với từng vị trí, và quanh hốc mắt người Đông Á thì gần như đã xong. Kích thước trần và sàn hốc mắt trong loạt chụp cắt lớp vi tính trên người Đông Á khác nhau giữa tuổi hai mươi và tuổi bốn mươi rồi đi ngang. Phần tiêu ở bờ hốc mắt dưới ngoài đã có từ tuổi trung niên, còn xương hàm dưới thì chưa nhập cuộc. Ở dây chằng thì chưa thập niên nào đo được thay đổi theo tuổi, bởi phép đo cơ sinh học trên xác không tìm thấy khác biệt nào. Trên những phép đo này, khuôn mặt tuổi bốn mươi thường là bài toán thể tích hơn là bài toán khung, với làn da còn bật lại được.
Tuổi 50: quỹ đạo bẻ ngoặt, và đường viền hàm nhập cuộc
Quanh tuổi 50 có một chuyện đo được xảy ra với lão hóa khuôn mặt nữ. Trong phân tích hình dạng ba chiều, hai giới đi theo quỹ đạo giống nhau cho tới khoảng tuổi đó, sau đó quỹ đạo của nữ bẻ ngoặt, dốc nhất ở giai đoạn ngay sau mãn kinh. Số năm kể từ kỳ kinh cuối dự báo chuyện đó tốt hơn tuổi, và xương hàm dưới tiêu đi gánh phần lớn. Đây là thứ gần nhất với cái mà bệnh nhân kể lại như một biến cố đột ngột: đường viền hàm còn sạch ở tuổi 51 và đã mờ ở tuổi 53.
Da chạy trên cùng cái đồng hồ ấy. Collagen và độ dày da sau mãn kinh, theo công trình nội tiết gốc, giảm từ 1 đến 2% mỗi năm, còn tổng quan về sau đặt mức tụt sớm ở tới 30% trong năm năm đầu. Chưa loạt ca căng da mặt nào kiểm tra mãn kinh như một yếu tố nguy cơ, còn trong phần số liệu kết quả bên dưới thì bản thân tuổi không phải yếu tố dự báo độc lập. Thứ mãn kinh đổi là chẩn đoán: xương hàm dưới đã tiêu, nằm dưới làn da kém bật hơn, cho ra phần chảy xệ hai bên hàm mà filler thường làm nặng thêm.
Tuổi 60: bộ xương làm nốt phần nó đã bắt đầu
Tới tuổi sáu mươi, những thay đổi ở xương đáng bàn là các thay đổi mà những loạt chụp cắt lớp vi tính xếp vào dải tuổi già nhất. Góc xương hàm trên ở nhóm trên 60 tuổi nhỏ hơn nhóm dưới 30 tuổi khoảng 10 độ. Trên 62 bệnh nhân, góc thành trước xương hàm trên cũng giảm có ý nghĩa qua các dải 21 đến 30, 41 đến 50 và 61 đến 70. Diện tích lỗ lê (pyriform aperture), tức lỗ hình quả lê ở nền mũi trên khối xương mặt, tăng theo tuổi trong phân tích khung xương theo ba dải tuổi, còn góc lỗ lê thì không. Chính nghiên cứu đó đặt phần tăng vào khoảng giữa nhóm trẻ với nhóm trung niên, chứ không phải muộn. Phần tiêu ở bờ hốc mắt trên trong thuộc về đây, bởi tổng quan giải phẫu chỉ đặt nó ở tuổi già.
Mô mềm thì im ắng hơn dự đoán. Độ dày má ở nhóm cao tuổi trong nghiên cứu MRI không thấp hơn nhóm trung niên, nên cái xẹp từng thống trị tuổi bốn mươi không còn là quá trình đang diễn ra. Chiều cao và diện tích lỗ vào hốc mắt trong loạt 107 người Hàn Quốc cũng không đổi giữa tuổi hai mươi và tuổi sáu mươi, nên lời khuyên dựng trên chuyện hốc mắt rộng dần không áp được vào đây.
Tuổi 70 trở đi: vẫn đúng là ca mổ đó
Kết quả căng da mặt ở tuổi bảy mươi có hồ sơ đầy đủ khác thường, và không có gì đáng chú ý trong đó, theo nghĩa đáng mừng. Trong 216 bệnh nhân chia đôi ở mốc 65 tuổi, tuổi trung bình là 57,6 và 70,0. Biến chứng nặng chạy ở mức 2,0% ở nhóm dưới 65 và 2,9% ở nhóm từ 65 trở lên, p bằng 0,65, còn biến chứng nhẹ là 6,1% so với 5,9%. Riêng tuổi theo lịch không phải yếu tố nguy cơ độc lập. Trong 541 bệnh nhân phân tầng tới nhóm từ 76 tuổi trở lên, biến chứng nặng là 0,4%. Tầng già nhất cho tỉ số chênh 1,82, khoảng tin cậy 0,51 đến 5,19, rộng đủ để bao gồm cả chuyện không có tác động nào.
Một con số nói rõ những bệnh nhân này là ai: 41,2% nhóm lớn tuổi đã từng căng da mặt, so với 17,6% ở nhóm trẻ hơn. Còn tổng kết 42 ca căng da mặt lần hai ghi nhận khoảng cách trung bình 11,9 năm giữa lần mổ đầu với lần mổ thứ hai, dải từ 1,0 đến 34,5 năm, với tuổi trung bình 50,2 và 61,9.
Phương pháp nào với tới lớp nào: so sánh nhanh
Ghép một lời than phiền với một lớp, rồi ghép lớp đó với một ca mổ, chính là phần lớn công việc của một buổi tư vấn. Dưới đây là bảng ghép ấy, kèm một cột thứ tư sòng phẳng: thứ sẽ không với tới vấn đề, dù làm khéo tới đâu.
| Lớp | Cái gì đổi | Thứ với tới nó trên trang này | Thứ không với tới |
|---|---|---|---|
| Xương: bờ hốc mắt, xương hàm trên, xương hàm dưới | Góc xương hàm trên nhỏ hơn khoảng 10 độ ở nhóm trên 60 tuổi; xương hàm dưới mất chiều cao và chiều dài | Thêm thể tích lên vùng đã lõm, hoặc một ca mổ trên khung xương | Mọi ca nâng, và filler dùng để thay thế, chỗ lệch nêu trong khuôn mặt tiêm filler bị chảy xệ |
| Các khoang mỡ sâu | Má phía trong mỏng hơn 3,3 mm tính tới tuổi trung niên, sau đó không đo được thêm phần mỏng nào | Cấy mỡ tự thân (fat graft) vào đúng khoang đã xẹp, với các dè dặt nêu trong mỡ cấy sống được bao nhiêu | Căng da mặt. Nâng một lớp vỏ rỗng chỉ siết nó lại chứ không lấp nó |
| Phần mô giữa các dây chằng | Điểm neo đứng yên còn mô ở giữa trượt đi, tạo nếp ở những tọa độ hằng định | Giải phóng dây chằng gò má và dây chằng vùng hàm theo lối deep plane | Sợi chỉ có gai, với giới hạn nêu trong căng chỉ và căng da mặt |
| Đường viền hàm và phần chảy xệ hai bên hàm, cổ còn sạch | Phần chảy xệ hình thành ở bờ trước dây chằng vùng hàm; xương hàm dưới ngay trước chỗ chảy xệ thì tiêu đi | Đường mổ ngắn hơn khi vùng cổ thật sự sạch, như trong căng da mặt mini và căng da mặt toàn phần | Siết riêng phần da, cách làm đặt tải lên chính điểm neo mà nó chưa từng cắt |
| Cơ bám da cổ và vùng cổ sâu | Đầy dưới cằm, góc cằm cổ tù đi, dải cơ nổi dọc | Sửa cơ bám da cổ, phân loại bằng các phép thử trên bàn khám trong hút mỡ nọng cằm hay căng da cổ | Nâng riêng phần má, thứ không với được ra sau xương hàm dưới |
| Da: lớp bì và độ bật | Khả năng hồi lại sau kéo giãn giảm nhanh hơn độ săn chắc; lớp bì mỏng đi ở gò má, trán, vùng gian mày và vùng dưới hàm | Làm nóng nhắm vào collagen, so sánh trong nâng cơ Ultherapy, Thermage hay Shurink | Mọi thiết bị dùng thay cho phần giải phóng. Nhiệt đổi lớp bì, không đổi vị trí |
| Chất lượng lớp bì | Collagen, theo ước tính, giảm tới 30% trong năm năm đầu sau mãn kinh, rồi khoảng 2% mỗi năm | Tiêm căng bóng da nâng đỡ lớp bì, so sánh trong Rejuran, Juvelook và Skinvive | Sửa chữa cấu trúc. Skin booster cải thiện vật liệu, không bao giờ đổi kiến trúc |
| Chỗ nối mí dưới với má | Không tụt xuống; hiện ra nhờ tương phản giữa một chỗ hõm với một chỗ phồng | Chuyển mỡ hốc mắt ra phủ qua bờ, xem xét trong tái phân bố mỡ hay lấy bỏ mỡ bọng mắt | Lấy bỏ phần mỡ đó, cách làm khoét sâu thêm đúng cái tương phản bệnh nhân đến than phiền |
| Chân mày và phần trên hốc mắt | Bờ hốc mắt trên trong tiêu ở tuổi già, còn lỗ vào hốc mắt ở người Hàn Quốc không rộng ra ở mức đo được | Nâng và đặt lại chân mày, với các lựa chọn trong cố định Endotine hay chỉ khâu và cắt da thừa mí trên qua chân mày hay cắt mí trên | Cắt da ở mí khi phần tụt nằm ở chân mày |
| Túi mỡ má | Không xẹp theo kiểu các khoang nông | Lấy qua đường trong miệng ở nhóm hẹp nêu trong lấy túi mỡ má và vùng hóp về sau | Đảo ngược. Tế bào mỡ đã lấy đi không mọc lại, như trong hút mỡ có bị béo lại không |
Đọc dọc cột thứ tư thì hiện ra chỗ chung của những kết quả đáng thất vọng: một ca mổ đúng kỹ thuật nhắm vào sai lớp.
Tôi mổ khuôn mặt 45 tuổi và khuôn mặt 68 tuổi thế nào: cùng một lần giải phóng, khác phần thêm vào
Cả hai khuôn mặt nhận cùng một ca mổ. Tôi dùng kỹ thuật deep plane trong phần lớn ca căng da mặt tôi thực hiện. Lớp SMAS, tức lớp cân cơ nông nằm dưới da mặt, khi bị siết lại thì vẫn đang chống một lực căng chưa bao giờ mất đi. Phần cơ sinh học ở trên nói rằng điểm neo ấy không yếu đi ở cả hai bệnh nhân. Ở cả hai, tôi giải phóng dây chằng gò má và dây chằng vùng hàm triệt để tới mức giải phẫu cho phép. Rồi tôi di chuyển da cùng lớp mô sâu như một khối phức hợp. Khuôn mặt chỉ giải phóng một phần là khuôn mặt còn dở dang: dây chằng nào để nguyên sẽ thành điểm neo mới và giới hạn mới. Chuyện đó càng quan trọng trên giải phẫu người châu Á, nơi ranh giới của SMAS ở các cơ gò má thường không rõ.
Thứ đổi theo biểu hiện là lối vào và phần thêm vào, chứ không phải mặt phẳng bóc tách. Khi vùng cổ thật sự không cần làm gì, đúng ca deep plane ấy đi qua một đường mổ ngắn hơn, với nhánh sau tai bỏ hẳn. Căng da mặt mini ở đây nghĩa là cùng một lần giải phóng, ít sẹo hơn.
Có những phần không đổi chút nào. Tôi đặt hemostatic net (lưới khâu cầm máu) ở cuối mọi ca căng da mặt, không có ngoại lệ. Chỉ nylon 4-0 luồn xuyên vạt da xuống tới nền vùng bóc tách, rút ra sau ba đến bốn ngày. Tôi đặt dẫn lưu kín có hút, hai ống mỗi bên, cả hai đưa ra gần xương chũm. Khi túi mỡ má (buccal fat pad) đúng là phần dư, tôi lấy nó qua đường trong miệng ngay ở khâu đầu tiên. Quyết định đó dựa vào chuyện nhìn vùng thái dương cùng chỗ hõm dưới gò má. Chỗ nào trong hai đã mỏng đi thì tôi từ chối. Filler nằm sai lớp thì tiêm tan trước, mổ sau ba đến sáu tháng, và không ca chỉnh sửa nào diễn ra trong vòng sáu tháng.
Trên bàn mổ có gì khác nhau thật sự
Chính mô lên tiếng về thập niên trước cả hồ sơ bệnh án. Ở bệnh nhân tuổi bốn mươi, lớp SMAS dày và giữ được mũi khâu. Lớp mỡ dưới da đủ dồi dào để mặt phẳng nằm dưới SMAS mở ra sạch sẽ, còn da thì nặng và tự trải lại. Ở bệnh nhân cuối tuổi sáu mươi, lớp SMAS mỏng hơn và mong manh hơn, nên một mũi khâu đặt vào đó dưới lực căng sẽ tuột qua mô. Đó đúng là lý do thực tế khiến tôi di chuyển nguyên khối phức hợp đã giải phóng, thay vì túm một tấm mô yếu bằng chỉ. Da bà ấy nhẹ hơn, lớp bì thưa, và phần thừa dồn về vùng cổ. Dây chằng thì sờ giống nhau ở cả hai tuổi. Thứ làm một lần giải phóng chậm lại không phải ngày sinh, mà là những gì đã làm trước đó. Sợi chỉ, filler tiêm nhiều lần và một ca nâng cũ đều để lại mô xơ trong đúng mặt phẳng tôi cần. Chảy máu thì bám theo huyết áp, theo giới tính và theo thuốc chống kết tập tiểu cầu, nhiều hơn hẳn bám theo tuổi. Vì vậy hemostatic net vẫn vào ở mọi lứa tuổi.
Thật ra cắt đi bao nhiêu da
Ít hơn bệnh nhân tưởng, bởi da không gánh phần nâng. Trong một ca deep plane lần đầu trên khuôn mặt tuổi bốn mươi, phần cắt phía trước tai vào khoảng 1 đến 2 cm, còn phía sau tai thường không cắt gì, vì nhánh đó đã bỏ. Trên khuôn mặt cuối tuổi sáu mươi, phần cắt trước tai gần mức 2 đến 4 cm, còn phía sau tai, nơi da cổ dồn lại, có thể vượt quá 5 cm. Tôi coi những con số ấy là mô tả cái vỏ da, không phải thước đo kết quả. Lực căng nằm ở lớp sâu, và da đóng lại không chịu tải ở cả hai tuổi.
Khi nào tôi thêm cấy mỡ tự thân
Quyết định thuộc về một dấu hiệu thăm khám, không bao giờ thuộc về tuổi. Hai dấu hiệu đẩy tôi sang cấy mỡ. Dấu hiệu thứ nhất là vùng thái dương hõm đi kèm lớp mỡ má sâu phía trong đã lún. Dấu hiệu còn lại là một bậc ở chỗ nối mí dưới với má, nơi bờ hốc mắt hiện lên. Có dấu hiệu nào trong hai thì mỡ đi vào lớp mỡ má sâu phía trong cùng vùng thái dương, và vào bờ hốc mắt. Khi cần thì mỡ vào thêm rãnh nằm trước phần chảy xệ hai bên hàm và vào khóe miệng, mỗi vị trí một lượng nhỏ. Trên khuôn mặt qua tuổi năm mươi, đây là phần hay được thêm vào bên cạnh ca nâng. Còn ở tuổi bốn mươi, kế hoạch hay gặp hơn lại là cấy mỡ mà không nâng gì cả, vì chẩn đoán là phần xẹp và chưa có gì trượt đi. Phần mỡ sống lại chỉ là một phần, đúng như bài về cấy mỡ tự thân đã trình bày, nên tôi cấy cho phần sẽ ở lại chứ không cấy cho phần đi vào.
Khi nào tôi bảo chờ, và khi nào tôi từ chối
Với bệnh nhân tuổi bốn mươi, tôi bảo chờ khi lấy tay nâng má lên mà không sửa được gì. Khuôn mặt không đẹp lên với một cú nâng bằng tay thì cũng không đẹp lên với một cú nâng bằng dao. Phần xẹp chữa bằng thể tích, không chữa bằng giải phóng. Tôi cũng bảo chờ qua những đợt cân nặng lên xuống nhiều, chờ bỏ thuốc lá, và chờ filler tan rồi ổn định ba đến sáu tháng trước khi lên kế hoạch. Với bệnh nhân tuổi bảy mươi, tôi không từ chối vì con số. Tôi từ chối vì huyết áp không chịu ổn định, vì một trái tim không thể bỏ thuốc chống đông. Tôi từ chối vì một người không đủ tỉnh táo để theo hết hướng dẫn của tuần đầu tiên, và vì một kỳ vọng là tấm ảnh của chính bà ấy hồi bốn mươi. Bốn thứ đó đã tiễn bệnh nhân về nhà. Tờ lịch thì chưa bao giờ.
Khuôn mặt sau mãn kinh
Mãn kinh không phải một dòng trong giấy cam kết của tôi, nhưng các phát hiện về nó đổi hai chuyện trong kế hoạch. Xương hàm dưới đã tiêu để lại một rãnh ngay trước phần chảy xệ hai bên hàm, nên riêng ca nâng không trả lại nổi một đường viền hàm thẳng. Tôi cấy mỡ vào chỗ rãnh đó ngay trong cùng buổi mổ. Da cổ thì đã mất độ bật, nên nhánh sau tai hiếm khi bỏ và cơ bám da cổ gần như lần nào cũng phải sửa. Phần da cắt sau tai cũng nhiều hơn mức cổ của người trẻ hơn cần tới. Estrogen đường uống thì tôi hỏi như một câu hỏi về huyết khối. Thời điểm dùng quanh ca mổ thì quyết định cùng bác sĩ đang kê đơn, chứ không phải mình tôi.
Bạn thuộc nhóm nào
Bệnh nhân chia nhóm theo biểu hiện chứ không theo thập niên, và sáu nhóm dưới đây phủ gần hết những gì bước vào một buổi tư vấn căng da mặt.

Người 44 tuổi có má đã bẹt xuống nhưng đường viền hàm còn sạch. Chẩn đoán là thể tích. Mô má phía trong đã mỏng hơn khoảng 3,3 mm tính tới tuổi trung niên, còn phần xương hàm dưới tiêu đi thì không phải thứ các nguồn đặt vào thập niên này. Lấp lại khoang đã xẹp là xử lý đúng chuyện đã xảy ra, còn một ca nâng chỉ siết một lớp vỏ đang thiếu phần bên trong.
Người 52 tuổi có đường viền hàm vỡ ra trong mười tám tháng. Thay đổi nhanh ở tuổi này đúng là kiểu diễn tiến mà công trình hình dạng ba chiều mô tả, với quỹ đạo của nữ bẻ ngoặt quanh tuổi 50 và xương hàm dưới tiêu đi gánh phần lớn. Filler dọc đường hàm thường thêm sức nặng cho đúng đường viền vừa mất phần đỡ.
Người 58 tuổi có cổ đầy và da tốt. Vùng cổ phải đi trước. Đầy dưới cằm kèm góc cằm cổ tù là chẩn đoán ở vùng cổ, nên đường mổ phải đi ra sau tai và thường phải thêm đường dưới cằm, bất kể má trông thế nào. Da còn bật lại thì giúp thêm, vì cổ trải lại được thì giữ góc mới tốt hơn.
Người 63 tuổi đã căng chỉ và tiêm filler suốt một thập niên. Hai vấn đề tới cùng lúc: vật liệu nằm sai lớp, và các tầng mô bị làm xơ nhiều lần. Filler cũ phải tiêm tan rồi để khuôn mặt ổn định trước khi lên bất kỳ kế hoạch nào, còn bóc tách qua mô xơ do chỉ để lại thì chậm hơn.
Người 71 tuổi làm ca nâng lần hai. Chuyện thường gặp hơn là ngoại lệ: 41,2% bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên trong loạt so sánh 216 người đã từng căng da mặt, còn tuổi trung bình ở lần nâng thứ hai là 61,9. Thứ khác đi là một mặt phẳng đã mổ trước đó, và lượng da còn dùng được.
Người đàn ông 47 tuổi. Cùng những lớp đó, khác hồ sơ nguy cơ và khác đường mổ. Bệnh nhân nam mang nguy cơ tụ máu cao gấp khoảng 3,9 lần bệnh nhân nữ trong cơ sở dữ liệu 11.300 người, lý do để siết chặt phác đồ cầm máu chứ không phải lý do để từ chối. Vùng da có râu cũng quyết định đường mổ nằm ở đâu so với bình tai.
Hồi phục ở tuổi 60 có lâu hơn tuổi 45 không?
Mốc hồi phục ở tuổi 60 nhìn chung giống ở tuổi 45, và số liệu biến chứng nói thẳng như vậy. Cả loạt so sánh 216 người quanh mốc 65 tuổi lẫn loạt 541 người phân tầng đều không thấy khác biệt có ý nghĩa theo tuổi. Cắt chỉ vào khoảng ngày thứ bảy, còn tê vùng má giảm dần qua nhiều tháng. Sẹo thì cần trọn một năm, theo đúng lịch trong bài sẹo sau căng da mặt và đường mổ lành thế nào.
Thứ khác đi là cái vỏ da mà phần sưng lắng vào. Vì khả năng hồi lại sau kéo giãn giảm nhanh hơn độ săn chắc, da lớn tuổi thích nghi với đường nét mới chậm hơn. Chặng ổn định cuối cùng vì thế trông khác đi, ngay cả khi tờ lịch giống hệt. Đó là một đặc tính của phần hoàn thiện, không phải một biến chứng.
Với người đi từ nước khác sang, khung thời gian lên kế hoạch giống nhau ở mọi thập niên. Trông ổn trong sinh hoạt riêng tư ở khoảng hai tuần, thoải mái giao tiếp sau bốn đến sáu tuần. Bài ở lại Hàn Quốc bao lâu sau phẫu thuật trình bày đúng lịch đó.
Góc nhìn của bác sĩ
Khi một bệnh nhân nói tuổi mình trước khi nói điều mình phiền lòng, tôi xin bà ấy bắt đầu lại. Thứ tôi cần biết là lớp nào đã thôi làm việc của nó, bởi đó là thứ duy nhất một ca mổ trả lời được. Khuôn mặt 45 tuổi và khuôn mặt 68 tuổi nhận cùng một lần giải phóng từ tay tôi, còn khác biệt trung thực giữa hai bên là phần tôi phải thêm vào và chuyện làn da sẽ làm gì sau đó. Câu hữu ích nhất tôi nói trong những buổi tư vấn này thường là chưa có gì cần nâng cả, và câu hữu ích thứ hai là tuổi bảy mươi không phải một cánh cửa đã đóng. Không câu nào là lời nói về ngày sinh nhật. Cả hai đều là lời nói về phần mô tôi vừa khám.
Tôi có quá già để căng da mặt không? Rủi ro sau 65 và sau 75, tính bằng số
Thứ mà số liệu kết quả lo ngại không phải là tuổi. Trên 11.300 ca căng da mặt, biến chứng nặng chạy ở mức 1,8%, tụ máu 1,1% và nhiễm trùng 0,3%, mà tuổi không dự báo độc lập thứ nào trong đó. Trên 216 bệnh nhân chia đôi ở mốc 65 tuổi, hai con số là 2,0% và 2,9%. Còn trên 541 bệnh nhân với các tầng chạm tới nhóm từ 76 tuổi trở lên, biến chứng nặng là 0,4% và biến chứng nhẹ là 7,6%.
Thứ những nghiên cứu đó dự báo được thì dễ gọi tên. Nguy cơ tụ máu cao hơn 3,9 lần ở bệnh nhân nam và cao hơn 2,6 lần ở một nhóm cơ sở y tế. Nguy cơ nhiễm trùng cao hơn 2,8 lần khi chỉ số khối cơ thể từ 25 trở lên. Con số đó là 3,5 lần khi ca căng da mặt làm chung với một ca mổ khác. Làm chung đẩy tỉ lệ biến chứng nặng lên 3,7% so với 1,5% khi làm riêng. Giới tính, cân nặng, làm thêm gì trong cùng một buổi, và làm ở đâu: đó mới là những thứ xoay chuyển được nguy cơ, mà không thứ nào là ngày sinh nhật cả.
Mọi con số vừa nêu đều đi kèm một dè dặt. Đây là những quần thể đã qua sàng lọc, do các bác sĩ đã từ chối những bệnh nhân họ đánh giá là không đủ điều kiện mổ. Riêng loạt 541 người là của một bác sĩ duy nhất với tiêu chí chọn bệnh nhân chặt. Chuyện không thấy tác động của tuổi ở đó nghĩa là tuổi không thêm nguy cơ trong nhóm người vốn đã đủ điều kiện mổ. Nó không nghĩa là khỏi cần sàng lọc. Kiểm soát chảy máu mới là chỗ câu hỏi về tuổi có lời đáp trên thực tế. Phác đồ trang này dùng nằm trong bài phòng tụ máu sau căng da mặt bằng hemostatic net.
Hãy hỏi lớp nào đã hỏng, đừng hỏi đã qua sinh nhật thứ mấy
Chọn ca mổ theo tuổi là trả lời một câu hỏi chưa ai đo. Mọi nghiên cứu ở đây đều đo một lớp. Một milimét độ dày má, một độ của góc xương hàm trên, một trị số độ cứng ở dây chằng, một đường hồi phục ở làn da bị kéo giãn. Các dải tuổi chỉ là cái hộp đựng những phép đo đó, không phải nguyên nhân.
Một buổi tư vấn hữu ích vì thế chạy qua bốn lớp theo thứ tự. Phần nền đã lùi lại chưa, và lùi ở đâu. Khoang nào đã xẹp. Mô đã trượt giữa những điểm neo vẫn đứng đúng chỗ cũ chưa. Làn da này có trở lại sau khi bị kéo giãn không. Trả lời xong bốn câu đó thì ca mổ tự gọi tên nó.
Hãy hỏi bác sĩ rằng ông ấy nghĩ lớp nào đã hỏng, và sẽ làm gì với từng lớp. Sẽ giải phóng cái gì, sẽ thêm cái gì, và mong làn da làm gì sau đó. Người trả lời bằng các lớp là người đang khám một khuôn mặt. Người trả lời bằng các thập niên là người đang đọc một tờ hồ sơ. Chỗ vênh giữa kế hoạch với lời than phiền chính là thứ trang này xem xét trong bài tự nhiên trong thẩm mỹ thật ra nghĩa là gì.
Bài viết bởi Bác sĩ Lee Yongwoo, bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ tại VIP Plastic Surgery, Hàn Quốc, chuyên sâu về giải phẫu vùng mặt và các thủ thuật thẩm mỹ.
Câu hỏi thường gặp về độ tuổi căng da mặt
Bao nhiêu tuổi thì nên căng da mặt?
Không tuổi nào là tuổi tốt nhất, vì chưa nghiên cứu nào đo một thập niên như nguyên nhân của bất cứ chuyện gì. Thứ đã đo được là các lớp. Mô má mỏng đi khoảng 3,3 mm tính tới tuổi trung niên, còn góc xương hàm trên nhỏ hơn khoảng 10 độ ở nhóm trên 60 tuổi so với nhóm dưới 30. Ở dây chằng thì chưa đo được khác biệt nào theo tuổi, và da mất độ bật nhanh hơn mất độ săn chắc.
40 tuổi căng da mặt có sớm quá không?
Nhiều khả năng không sớm, nhưng có thể đang nhắm sai lớp. Phần lớn thể tích má mất đi đã xảy ra xong trước tuổi trung niên, còn dây chằng và xương hàm dưới ở tuổi bốn mươi thì thường vẫn nguyên. Khuôn mặt 40 tuổi vì thế hay là khuôn mặt đã xẹp hơn là khuôn mặt đã tụt. Phần chảy xệ hai bên hàm mà lấy tay nâng má lên là gọn lại ngay, chính dấu hiệu đó mới làm cho ca mổ trở nên hợp lý.
70 tuổi có căng da mặt được không?
Theo số liệu kết quả thì được. Trên 216 bệnh nhân chia đôi ở mốc 65 tuổi, biến chứng nặng là 2,9% ở nhóm lớn tuổi và 2,0% ở nhóm trẻ hơn, khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Riêng tuổi theo lịch không phải yếu tố nguy cơ độc lập ở đó, cũng không phải trong cơ sở dữ liệu 11.300 người.
Sau 75 tuổi căng da mặt có an toàn không?
Bằng chứng hiện có nói rằng bản thân tuổi không thêm nguy cơ đo được. Trên 541 bệnh nhân phân tầng tới nhóm từ 76 tuổi trở lên, với 7% nằm trong dải già nhất, biến chứng nặng chung là 0,4%. Tỉ số chênh của nhóm già nhất ra 1,82, khoảng tin cậy 0,51 đến 5,19. Đó là một bác sĩ duy nhất áp tiêu chí chọn bệnh nhân chặt chẽ.
Căng da mặt sớm thì giữ được lâu hơn phải không?
Chưa ai đo trực tiếp chuyện đó. Tổng kết 42 ca căng da mặt lần hai ghi nhận trung bình 11,9 năm giữa lần mổ đầu và lần mổ thứ hai, dải từ 1,0 đến 34,5 năm, tuổi trung bình 50,2 ở lần nâng đầu. Chỉ có điều bài báo đó không phân tích tuổi đối chiếu với độ bền. Một tổng quan khác báo cáo mức hài lòng tốt hơn ở nhóm mổ trước tuổi 50.
Có nên chờ tới 60 tuổi rồi mổ một lần thay vì hai lần không?
Chờ chỉ hợp lý khi thứ đang làm bạn phiền lòng là một lớp mà phẫu thuật kiểu gì cũng không sửa. Nếu lời than phiền là phần xẹp, chờ không đổi được gì ở ca mổ rốt cuộc bạn sẽ làm. Còn nếu đó là phần chảy xệ hai bên hàm mà một cú nâng bằng tay sửa được, chờ là bỏ đi một thập niên cho một giả định chưa ai kiểm chứng. Chưa nghiên cứu nào cho thấy mổ lần đầu muộn hơn sẽ dẫn tới ít lần mổ hơn trong đời.
Mãn kinh có đổi kế hoạch mổ không?
Nó đổi chẩn đoán nhiều hơn đổi kỹ thuật. Hình dạng khuôn mặt nữ đi theo quỹ đạo giống nam cho tới khoảng tuổi 50 rồi bẻ ngoặt. Thay đổi sau mãn kinh thì số năm kể từ kỳ kinh cuối dự báo tốt nhất, với xương hàm dưới tiêu đi gánh phần lớn. Y văn cũng cho rằng collagen da tụt dốc trong cùng quãng thời gian ấy, tới 30% trong năm năm.
Dây chằng trên mặt có giãn ra theo tuổi không?
Chưa phép đo nào ủng hộ chuyện đó, mà đây lại là một trong những lời hay được nhắc nhất khi quảng cáo căng da mặt. Thử nghiệm trên xác đã đo dây chằng gò má, dây chằng hốc mắt, dây chằng vùng hàm và dây chằng xương hàm trên, rồi thấy kích thước cùng tính chất lý sinh của chúng không thay đổi theo tuổi hay theo giới. Điểm neo đứng yên trong khi mô ở giữa xẹp xuống rồi trượt đi.
Mặt đang tiêu xương thì căng da mặt còn tác dụng không?
Có, nhưng nó làm việc trên một lớp khác và sẽ không chỉnh được xương. Phần tiêu gắn với từng vị trí: góc xương hàm trên nhỏ hơn khoảng 10 độ ở nhóm trên 60 tuổi so với nhóm dưới 30, còn xương hàm dưới mất chiều cao và chiều dài. Bờ hốc mắt dưới ngoài lùi lại từ tuổi trung niên, với bờ trên trong chỉ theo sau ở tuổi già.
Khuôn mặt người châu Á già đi có khác không?
Ít nhất ở một điểm đo được thì có. Trên 107 người Hàn Quốc so giữa nhóm 20 đến 35 tuổi và nhóm từ 60 tuổi trở lên, chiều cao và diện tích lỗ vào hốc mắt không đổi có ý nghĩa, mức chênh trung bình dưới 0,1 mm. Còn y văn chụp cắt lớp vi tính trên người da trắng thì báo cáo lỗ vào hốc mắt rộng dần. Trên 54 người Đông Á, hốc mắt đổi giữa tuổi hai mươi và tuổi bốn mươi rồi đi ngang.
Có phải căng da mặt lần hai không, và khi nào?
Có người cần, nhiều người không. Trong loạt 42 bệnh nhân quay lại mổ lần hai, khoảng cách trung bình là 11,9 năm, dải chạy từ 1,0 đến 34,5 năm, còn tuổi trung bình là 50,2 ở lần mổ đầu và 61,9 ở lần thứ hai. Ở nhóm bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên trong một loạt ca khác, 41,2% đã từng làm một lần.
Có nên cấy mỡ tự thân cùng lúc với căng da mặt không?
Thường là hợp lý, bởi hai ca mổ xử lý hai lớp khác nhau, và quyết định đến từ buổi thăm khám chứ không đến từ tuổi. Khoang mỡ má sâu phía trong xẹp đi để lại một lớp vỏ da có nhiều bề mặt hơn phần bên trong, mà đặt lại lớp vỏ đó thì không lấp nó. Làm chung nhiều ca mổ đúng là đã đẩy tỉ lệ biến chứng nặng lên 3,7% so với 1,5% khi làm riêng.
Độ tuổi căng da mặt ở nam giới có khác không?
Các lớp thì giống hệt, hồ sơ nguy cơ thì không. Bệnh nhân nam mang nguy cơ tụ máu cao gấp khoảng 3,9 lần bệnh nhân nữ trong cơ sở dữ liệu kết quả lớn nhất, và chuyện đó làm đổi phác đồ cầm máu chứ không làm đổi thời điểm. Trên siêu âm, phần mỏng đi của lớp bì ở nam cũng chỉ đạt mức có ý nghĩa ở ít vị trí hơn so với nữ.
Căng chỉ ở tuổi bốn mươi có hoãn được ca căng da mặt không?
Sợi chỉ tác động lên một lớp không phải lớp đang tạo ra nếp gấp, nên nó cải thiện đường nét tạm thời mà không đổi thứ đã gây ra nếp. Một sợi chỉ có gai kéo chống lại những dây chằng giữ chưa ai giải phóng, mà ở chúng thì chưa đo được mức yếu đi nào theo tuổi. Quãng đường mô đi được và thời gian nó ở lại vì thế đều bị giới hạn. Làm lặp lại cũng để lại mô xơ.
Đi tư vấn thì nên hỏi gì về tuổi của mình?
Đừng hỏi gì về tuổi và hãy hỏi mọi thứ về các lớp. Hãy hỏi xem bác sĩ tin rằng lớp nào đã hỏng, ông ấy định giải phóng cái gì, định thêm cái gì, và mong làn da làm gì sau khi trải lại. Hãy hỏi thêm rằng các dây chằng giữ sẽ bị cắt, hay sẽ bị siết chống lại.
Bài viết chỉ mang tính thông tin, không thay thế chẩn đoán hay tư vấn y khoa. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ có chuyên môn trước khi quyết định làm bất kỳ phẫu thuật hay thủ thuật nào.
